phat-thich-ca

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

PHẬT TÁNH

Phật tánh có 3 nghĩa :
- Nghĩa sơ cấp         : là tánh thiện.
- Nghĩa trung cấp     : là tánh giác.
- Nghĩa thượng cấp  : là tánh không.
Nơi mỗi chúng sanh đều có sẵn phật tánh ấy nhưng vì bị vô minh che lấp cho nên phật tánh ấy chẳng được hiện bày.
Do đó, phát sinh vọng tưởng phiền não và nghiệp chướng khiến chúng sanh phải bị trầm luân nơi khổ hải.
Mục đích tối thượng của bậc chơn tu là phục hồi phật tánh ấy tức là "Minh tâm kiến tánh". Khi chơn tu đắc pháp tức là đã phục hồi phật tánh thì chấm dứt mọi vọng tưởng và phiền não nghiệp chướng, hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ thân tâm lúc nào cũng được an vui, thanh tịnh cho nên gọi là đắc niết bàn.
Trong phật tánh gồm có 3 phần :
Thể      : Định
Dụng    : Huệ
Tướng  : Bi
Thể, dụng, tướng ấy gọi là tam thân.
- Thể là thanh tịnh pháp thân.
- Dụng là viên mãn báo thân.
- Tướng là thiên bá ức hóa thân.
Do đó, khi phục hồi phật tánh sẽ đầy đủ tam thân.
Từ tam thân xuất sinh hằng sa diệu dụng công đức pháp lành. Do đó, khi hành giả đắc pháp viên mãn đạo hạnh phật tánh ví như mặt trăng đêm rằm tròn sáng, còn vô minh ví như làn mây đen che ánh mặt trăng khiến cho bầu trời tăm tối.
Khi phật tánh bị vô minh che lấp thì tâm sinh phiền não, thân tạo nghiệp chướng tội lỗi, ví như đêm rằm trăng sáng mà bị mây che thì có nhiều trộm cướp nổi dậy phá xóm làng, nhiễu hại dân lành.
Khi mây tan trăng sáng bầu trời quang đãn, trộm cướp liền ẩn dạng biến mất. Cũng thế khi vô minh tan hết phật tánh hiện bày thì phiền não nghiệp chướng tẩu thoát không còn. Thân tâm hoàn toàn an vui thanh thản trọn lành.
Nhưng vô minh là gì ?
Làm cách nào để tận diệt vô minh và phục hồi phật tánh ?
Vô minh nói chung là tất cả những mê chấp của chúng sanh, chung qui không ngoài 3 thứ mê chấp căn bản :
1/- Chấp ngã.
2/- Chấp pháp
3/- Chấp không (chấp tướng).
Từ 3 thứ mê chấp đó sanh ra hằng sa mê chấp khác, hành giả chỉ cần tận diệt 3 thứ đó thì dứt hết mọi mê chấp và hoàn toàn diệt tâm vô minh. Phật tánh lúc bấy giờ được hồi sinh hiện hành viên mãn.
Cho nên có câu : "Mây tan vần nguyệt rạng
                            Nước cạn trái châu bày".
Ba thứ mê chấp ấy gọi chung là tam chướng. Vì hay gây chướng ngại trên bước đường phản bổn hoàn nguyên "phục hồi phật tánh".
Chỉ thẳng cách để diệt trừ vô minh trong thiền tông có một pháp mầu mà chỉ có minh sư mới thủ đắc mà mật truyền cho cao đệ.
Đệ tử ưu tú gọi là "Tâm ấn Như Lai".
Nhưng trước khi mật truyền tâm ấn cho cao đệ, thiền sư thường cho lội qua 6 dòng nước, nhảy qua 7 lò lửa, bay qua 8 bát phong thì mới đủ điều kiện để thọ trì "Tâm ấn Như Lai" và hoằng khai diệu pháp báo đáp tứ ân, cứu nhân độ thế, phổ tế quần sanh, hoàn thành bi nguyện.
Để trợ duyên pháp tử khỏi bị chìm sâu trong 6 dòng (lục thủy), bị cháy tan trong 7 lò lửa (thất hỏa) và tan xác trong 8 ngọn gió (bát phong).
Thiền sư truyền trao công án cho pháp tử gọi là 2 phao nổi để lội qua lục thủy, đôi thiết hài để nhảy qua thất hỏa và cặp cánh thần để bay qua bát phong.
Lội qua lục thủy thì được lên bờ giác.
Nhảy qua thất hỏa thì được vào nhà giải thoát.
Bay qua bát phong thì được về non niết bàn.
Công án ấy gọi là pháp mầu trợ đạo.
Còn tâm ấn  gọi là pháp mầu ngộ đạo.
Sau khi hành giả tu thiền đã đạt đến tứ thiền thì mới được minh sư trao truyền công án. Để dọn mình thọ trì tâm ấn như lai diệu pháp.
                            Trường đồ tri mã lực
                            Tố cựu biết nhân tâm.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

Tâm bồ đề có 2 đặc tính cơ bản: Giác ngộ  -  Từ bi.
Do đó, phát tâm bồ đề có nghĩa là phát nguyện tu hành đắc đạo độ sanh.
Khi một hành giả đã phát tâm bồ đề thì lúc nào cũng đặt đạo pháp và chúng sanh lên trên hết hay nói một cách khác : Lấy đạo lợi sanh làm lẽ sống, làm cứu cánh, làm nguồn hạnh phúc.
Kẻ tu hành mà không phát tâm bồ đề thì chẳng khác nào trồng cây mà chẳng dọn đất thì không bao giờ được hưởng quả. Chẳng những không được hưởng quả mà còn mọc cỏ dại cây gai trở lại nữa.
Cũng có thể ví như người làm ruộng đất không dọn sạch cỏ mà lại đi trồng cây, rốt cuộc rồi cây ấy cũng bị cỏ giết chết và không thể nào đem lại kết quả được.
Tóm lại : kẻ chơn tu muốn mau thành chánh quả thì điều kiện tiên quyết là phải phát tâm bồ đề trước hết.
Thuyền bát nhã vượt qua khổ hải, chuổi bồ đề đánh bại ma quân, nước từ bi rửa sạch bụi trần, đường bát chánh siêu nhân thoát tục, tâm thanh tịnh là nguồn chơn phúc, ái ân là tù ngục nhốt giam, muốn xác hồn an trụ già lam, phải quét sạch lòng tham ngũ dục, tâm ly dục là nguồn chơn hạnh phúc.../-

ĐẠO

Đạo gồm hai : phương tiện và cứu cánh.
Đạo làm người và đạo giải thoát.
Đạo phương tiện còn gọi là đạo pháp.
Đạo cứu cánh còn gọi là đạo mầu hay đạo quả.
Đạo làm người gọi là đạo nhập thế hay nhân đạo.
Đạo giải thoát gọi là đạo xuất thế hay phật đạo.
Muốn học ĐẠO LÀM NGƯỜI trước hết phải học chữ HIẾU và chữ NHÂN.
Muốn học ĐẠO GIẢI THOÁT trước hết phải học chữ XÃ và chữ NHẪN.
Xã có hai nghĩa :
- Bố thí : đem cho những sở hữu của mình.
- Không chấp : không dính mắc các pháp bên trong như bên ngoài, theo nghĩa này chữ xã có nghĩa là VÔ TRỤ.
Nhẫn có hai nghĩa :
- Kiên nhẫn : kiên trì nhẫn nại chịu khó, không thối chí, không nãn lòng.
- Nhẫn nhục : vui lòng lãnh thọ tất cả những gì không vừa lòng đẹp ý và làm trái tai gai mắt. Theo nghĩa này thì nhẫn có nghĩa là không sân (không tức giận).

                  Hiếu nhân vẹn toàn
                  Chẳng còn đọa lạc
                  Trong ba đường ác (địa ngục, ngã quỷ, súc sanh)
                  Đó là nhờ giữ tròn nhân đạo.

                                             Nhứt thiết xã ly
                                             Từ bi nhẫn hòa
                                             Lìa xa tham ái
                                             Thân tâm tự tại.

                                                                           Nhẫn nại kiên trì
                                                                           Dứt sạch sân si
                                                                           Từ bi hỷ xã
                                                                           Thành tựu phật quả.

NGHIỆP

Nghiệp tuy có nhiều nhưng không ngoài 3 thứ : Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
- Thân nghiệp thuộc về hành vi.
- Khẩu nghiệp thuộc về ngôn ngữ.
- Ý nghiệp thuộc về tư tưởng..
Ba nghiệp xuất phát từ tập khí hay chủng tử, đã ăn sâu từ nhiều đời nhiều kiếp.
Ba nghiệp ấy thường gây chướng ngại cho đạo giải thoát nên gọi là nghiệp chướng.
Trong ba nghiệp ấy ý nghiệp đứng đầu. Do đó, muốn giải trừ tam nghiệp trước hết phải giải trừ ý nghiệp bằng pháp thiền.
Đó là phần tự lực bên trong, còn phần trợ lực bên ngoài gồm có 4 phương tiện sau :
- Bái sám (lạy bái sám).
- Chú nguyện (Minh sư giải nghiệp).
- Uống kim đơn (Minh sư khảo).
- Làm công quả (lợi đạo lợi sanh).
Nếu tu thiền mà không nương vào 4 phương tiện trên đây trợ duyên dể bị nghiệp chướng ngăn cản trên bước đường hành pháp, khó đắc pháp.
Khi nào tam nghiệp được giải trừ rốt ráo tức là hết nghiệp, gọi là giải thoát vì đã hoàn toàn hết khổ thì sẽ được hoàn toàn thanh tịnh.
Tam nghiệp thanh tịnh gọi là tam thanh cụ túc nhờ đó đầy đủ tam thanh khác nữa là :
Thanh lương : mát mẻ
Thanh nhàn  : vô sự vô vi
Thanh thản  : thư thới nhẹ nhàng khoan khoái.
Tóm lại : Tam thanh có 2 nghĩa.
Tam nghiệp thanh tịnh (thân, khẩu, ý)
(Thanh lương, thanh nhàn, thanh thản).
Còn một nghĩa thứ ba tuy ít dùng nhưng cũng cần biết qua : Cảnh thanh vắng, thân thanh nhàn, tâm thanh tịnh. Đó là tam thanh của tiên gia cũng nên biết cho rốt ráo của nghĩa tam thanh./-

NGŨ ẤM

SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC
Sắc : thuộc thân.
Thọ, tưởng, hành, thức : thuộc tâm
Sắc ấm : ăn uống, bệnh hoạn, tình dục nó xúi dục.
Tu thiền sanh tật muốn ăn nhiều.
Ma sắc ấm phá : ăn nhiều, ngủ nhiều.
Hàng phục : Nhịn đói, bỏ ăn tiết thực. Buồn ngủ : càng ít ngủ.
Thọ ấm : cảm giác ma ngũ ấm nhớ nhà.
Tưởng ấm : tư tưởng nhớ đủ thứ, có khi tự nó nổi lên như anh khờ soi gương thấy mặt nổi lên.
Ý tưởng + ma ngũ ấm phá, thiền sinh đừng tin những gì mình nghĩ mà phải nhìn kỹ vào thực tế của mình lúc đó an trụ.
Hành ấm : là ý chí (tư lương) sắp biến thành hành động.
Thiền sinh đang ngồi, ý muốn đi ăn, ý chí tác động mới xuống bếp lục ăn.
Thọ ấm : ăn ngon cảm thấy vui thích đó là thọ ấm, làm việc trời mưa cảm thấy bực bội.
Thức ấm : lưỡi nếm tất cả các mùi vị đắng cay.
Tư tưởng sắp biến thành hành động.
Ví dụ : một hôm đi qua phố ngang qua chổ bán vải đẹp (thức ấm) khởi ý muốn mua đem về may đồ để đi chơi hay dịp lễ (hành ấm) mới thò tay vào túi lấy tiền mua vải để tưởng tượng may (tưởng ấm) trong lòng cảm giác vui thích (thọ ấm) đi nhanh đến tiệm may (sắc ấm).
Thiện ác gì đều xuất phát từ ngũ ấm.

HIỂU ĐỜI - NGỘ ĐẠO

THẾ GIAN VÔ THƯỜNG, CÕI ĐỜI GIẢ TẠM, CUỘC SỐNG PHÙ DU.
Đó là 3 nguyên nhân chủ yếu khiến người tỉnh ngộ, phát tâm tu hành tìm đường giải thoát.
Giải thoát ở đây không phải là trốn lánh khỏi đời mà là xa lìa tất cả những nguyên nhân tạo ra đau khổ.
Đời vốn không vui cũng không khổ, mà vui hay khổ là do lòng người.
Đời vừa là thiên đường vừa là địa ngục. Thiên đường đối với người có đầy đủ phước báu và địa ngục đối với kẻ bất hạnh kém phước vô duyên.
Còn riêng đối với bậc siêu nhân thoát tục ly trần thì đời là niết bàn tại thế.
Trong đời cũng có đạo, trong đạo cũng có đời
Chân lý của đời chính là đạo.
Chân lý của đạo chính là đời.
Thấy được chân lý của đạo là ngộ đạo.
Thấy được vô minh của đời tức là hiểu đạo.
HIỂU ĐỜI - NGỘ ĐẠO.

THẬP ĐỒ

Thập đồ hay thập mục ngưu đồ là 10 bức tranh chăn trâu.
Thập đồ gồm có :
1- Tầm ngưu.
2- Kiến tích.
3- Kiến ngưu.
4- Đắc ngưu.
5- Mục ngưu.
6- Kỵ ngưu qui gia.
7- Vong ngưu tồn nhân.
8- Nhân ngưu cưu vong.
9- Phản bổn hoàn nguyên.
10- Nhập thị thùy thủ.
Mười bức tranh tiêu biểu cho 10 nấc thang thiền mà hành giả phải leo lên để được vào nhà diệu pháp.
Từ bức 1 đến bức 8 tượng trưng cho 4 bực thiền tâm, bức 9 và 10 thuộc về thiền tánh (siêu thiền).
- Sơ thiền là pháp nhất tâm, tượng trưng bằng 2 bức tranh : Tầm ngưu và kiến tích; tiêu biểu bằng hình ảnh "Gà ấp trứng".
- Nhị thiền là pháp quán tâm, tượng trưng bằng 2 bức tranh : kiến ngưu và đắc ngưu; tiêu biểu bằng hình ảnh "Mèo rình chuột".
- Tam thiền là pháp vô tâm, tượng trưng bằng 2 bức tranh : mục ngưu và kỵ ngưu qui gia; tiêu biểu bằng hình ảnh "Bù nhìn coi chim".
- Tứ thiền là pháp ly tâm, tượng trưng bằng 2 bức tranh : vong ngưu tồn nhân và nhân ngưu cưu vong; tiêu biểu bằng hình ảnh "Vọng phu hóa đá".
- Siêu thiền là pháp ấn tâm hay "Niết bàn diệu tâm". Gồm có hai phần :
+ Minh tâm kiến tánh : tượng trưng bằng bức tranh : Phản bổn hoàn nguyên; tiêu biểu bằng hình ảnh "Mẫu tử tương phùng".
+ Hành thâm bát nhã : tượng trưng bằng bức tranh : Nhập thị thùy thủ.
Tứ thiền là 4 pháp phương tiện. Còn siêu thiền là pháp môn cứu cánh cũng gọi là pháp tánh hay tâm ấn.
Hành giả bước lên siêu thiền là đã đạt đến cứu cánh của thiền gọi là đắc pháp thành tựu tam thân (Định, Huệ, Bi) viên mãn.
Tóm lại, thập đồ là 10 bức tranh tượng trưng 2 cấp thiền.
- Cấp II : Thiền tâm.
- Cấp III : Thiền tánh.