Sự tu hành chớ nên thái quá bất cập tinh tấn không phải là nhiệt hứng nhất thời, mà cốt ở chỗ thường hành bình đẳng, không nên an phận thủ thường mà cũng chớ nên quá tham vọng, cả hai đều không đạt đến đạo, cứ nổ lực phấn đấu với ma nghiệp mà tiến bước đều đều thì mới mong đạt đến đạo, phải trông mong kết quả nhưng đừng quá tham mà sanh phiền não, cần để tâm an trụ trong cảnh lạc thì mới phát huệ được, phải ráng hết sức mình để tiến tu, còn kết quả lâu mau chớ sanh lòng trụ chấp, càng trụ chấp nơi kết quả thì lại càng xa đạo, muốn đến đạo phải vô tâm, vì vô tâm tức là đạo vậy, tại sao thối chuyển trên bước đường tu vì không giữ đúng trung đạo, và lại quá mong cầu và trụ chấp nơi kết quả phải dùng khổ hạnh và khắc kỹ để thắng ma quân phiền não nhưng chớ nên thái quá mà làm khổ thân nhọc xác do đó tâm không an lạc và thêm cái duyên chướng đạo chớ không ích gì, khổ hạnh đúng cách là làm cho cái thân không quá khổ nhọc đến nỗi tâm linh phát sinh phiền não, như thế mới trợ duyên cho sự tu đạo.
Vậy điều cốt yếu là phải giữ mực trung đạo và vô tâm cũng tạm gọi là vô tư để khế hiệp với lẽ tự nhiên tức là hiệp đạo tâm thân liền an lạc và mau phát huệ.
Tóm lại càng mong cầu kết quả thì lại càng lâu kết quả, càng tinh tấn thì lại càng mau thối chuyển. Các con muốn chóng được giải thoát nhưng tự mình lại trói buộc mình chứ không ai trói buộc mình cả, cứu cánh của các con là trí huệ, sự nghiệp muôn đời của các con là trí huệ, do đó muốn gầy dựng đạo nghiệp trước tiên phải giữ tâm an lạc, tâm không an lạc thì tu a tăng kỳ kiếp cũng không bao giờ đắc đạo phát huệ được, huệ ví như ánh mặt trời, còn trí của phàm phu dù thông minh đến tột đĩnh như các nhà thông thái bác học cũng chỉ như ánh sao mờ mà thôi, huệ phá tan phiền não diệt sạch nghiệp chướng tội lỗi, còn thế trí những không làm được như thế mà ngược lại còn gây nhiều tội lỗi và sanh thêm nhiều phiền não nhứt là tăng trưởng thêm lòng tham vọng một trong những mầm sa đọa của chúng sanh.
Vậy các con phải phát tâm dõng mạnh thiết tha mong cầu trí huệ vô lậu, do trì giới nhẫn nhục diệt tham sân si phiền não mà phát sanh trí huệ, các con phải đặt trí huệ ấy lên trên tất cả và hy sinh tất cả cho huệ vô lậu nhịn nhục chịu thua chịu thiệt thòi chịu khổ nhọc .v.v... miễn sao tâm được an lạc đó là bậc trí giả vậy. Đạo nói không cùng tận dù có nghe nhiều mà không thực tu thực hành cũng hoàn toàn vô bổ, muốn mau phát huệ các con phải diệt nghiệp, nghiệp càng mòn thì huệ càng phát.
Không có tôn giáo nào qua chơn lý. Không có đạo lý nào qua tình thương. Không có con đường nào qua giác ngộ. "O"
Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011
Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011
DỌN MÌNH ĐỂ THIỀN ĐỊNH
Các con phải kiểm soát kiềm chế có ý thức từ cái đi cái đứng cái nằm cái ngồi, cái ăn cái uống cái tiêu cái tiểu, cái nhìn cái cười cái nói, tức là đi cũng định, đứng cũng định, nằm cũng định, ngồi cũng định, ăn cũng định, uống cũng định, tiêu cũng định, tiểu cũng định, nhìn cũng định, cười cũng định, nói cũng định .v.v... mới mong đạt tới chổ thường định hay đại định, nghĩa là chứng đắc chơn như tam muội hiện tiền.
Một cái liết, một cái nhìn, một cái cười cợt, một cái cử chỉ, một động tác vô ý thức làm cho các con xa lìa chơn như do đó xa đạo mà hiệp với vô minh.
Ngược lại các con giữ đúng từng cái nhỏ nhặt như trên tức là các con thường khế hiệp với chơn như tức là phát sanh trí bát nhã hay là phát huệ cũng thế.
Vậy các con cố gắng thực hành chớ xem thường mà tu khó mong kết quả.
Người biết tu hiểu rõ chơn nghĩa của chữ tu thì lúc nào cũng tu được hết tu từng tưởng niệm từng sát na và lúc nào cũng sáng suốt chụp lấy mọi cơ hội để tu và lợi dụng mọi nghịch cảnh để trui rèn lòng nhẫn nhục cho sớm được thành tựu 6 pháp ba la mật.
Vậy SP muốn các con bất cứ lúc nào bất kỳ ở đâu cũng không bỏ mất giờ tu đều tu được hết, dồn hết kiếp người ngắn ngủi của mình vào một chữ tu, hiến dâng trọn đời mình cho lý tưởng tối cao đó là đắc đạo độ đời, tức lý tưởng 4 Đ, luôn luôn say mê với lý tưởng thường nâng niu ôm ấp nó để thắng tất cả mọi thử thách đưa tới cho mình. Trong các con ai hay có những cái vô ý thức và náo động như cử chỉ khọt khẹt nhíu mày nhăng mặt lím môi tằng hắng rung đùi múa tay .v.v... hãy diệt trừ ngay chớ nên dung dưỡng mà bị ngăn chướng đạo quả và mất oai nghi giảm thần lực không ích chi, đừng để SP bắt gặp những cố tật ấy nữa.
Một cái liết, một cái nhìn, một cái cười cợt, một cái cử chỉ, một động tác vô ý thức làm cho các con xa lìa chơn như do đó xa đạo mà hiệp với vô minh.
Ngược lại các con giữ đúng từng cái nhỏ nhặt như trên tức là các con thường khế hiệp với chơn như tức là phát sanh trí bát nhã hay là phát huệ cũng thế.
Vậy các con cố gắng thực hành chớ xem thường mà tu khó mong kết quả.
Người biết tu hiểu rõ chơn nghĩa của chữ tu thì lúc nào cũng tu được hết tu từng tưởng niệm từng sát na và lúc nào cũng sáng suốt chụp lấy mọi cơ hội để tu và lợi dụng mọi nghịch cảnh để trui rèn lòng nhẫn nhục cho sớm được thành tựu 6 pháp ba la mật.
Vậy SP muốn các con bất cứ lúc nào bất kỳ ở đâu cũng không bỏ mất giờ tu đều tu được hết, dồn hết kiếp người ngắn ngủi của mình vào một chữ tu, hiến dâng trọn đời mình cho lý tưởng tối cao đó là đắc đạo độ đời, tức lý tưởng 4 Đ, luôn luôn say mê với lý tưởng thường nâng niu ôm ấp nó để thắng tất cả mọi thử thách đưa tới cho mình. Trong các con ai hay có những cái vô ý thức và náo động như cử chỉ khọt khẹt nhíu mày nhăng mặt lím môi tằng hắng rung đùi múa tay .v.v... hãy diệt trừ ngay chớ nên dung dưỡng mà bị ngăn chướng đạo quả và mất oai nghi giảm thần lực không ích chi, đừng để SP bắt gặp những cố tật ấy nữa.
SP DẠY CHÚNG ĐỆ TỬ XUẤT GIA
Kẻ xuất gia mà chẳng cố gắng tu hành buông lung dải đãi phá giới phạm trai, mê say theo ngũ dục những kẻ tu hành như thế ấy đối với tam bảo thì phạm tội phá đạo, đối với thí chủ thì phạm tội ăn trộm, đối với cha mẹ thì phạm tội bất hiếu, đối với quốc vương thì phạm tội bất trung.
Do phạm 4 trọng tội ấy cho nên đến giờ lâm chung ắt bị đọa vào địa ngục trãi qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, khi mãn kiếp địa ngục lại phải đầu thai làm loài súc sanh để đền trả nợ xưa cho người thí chủ hoặc làm ngựa kéo xe làm trâu kéo cày làm chó giữ nhà làm la làm lừa chở chuyên hàng hóa .v.v... trãi qua vô số kiếp mang lông đội sừng để trả nợ cũ, khi hết trả nợ rồi lại sanh ra người hạ tiện tôi tớ cho người thí chủ trước kia, làm việc đầu tắc mặt tối cả ngày mà vẫn bị chủ nhà mắng chửi rầy la đánh đập cho ăn cơm hẩm đồ thừa chịu muôn điều nhục nhã khổ đau, đêm lại chỉ nằm co quanh xó bếp, mùa đông giá lạnh, mùa hạ muỗi mòng mà không đủ mùng mền chăn chiếu, quần áo chẳng kín thân ấy cũng bởi tiền kiếp chẳng lo tu để đền 4 ơn sâu nặng, nương thân dưới bóng từ bi để cầu miếng cơm manh áo, chớ không có tâm cầu đạo giải thoát của Như Lai cho nên đoạn tháng qua ngày bung lung phóng đật. Đệ tử xuất gia cửa phật nào phải là kẻ trốn nợ đời, kẻ xuất gia mà vì trốn nợ đời thì ắt mang nợ đạo, thì tam ác đạo khó lìa. Đi tu là trả hiếu mẹ cha, đi tu là đền ơn tổ quốc, gắng tu cho thành chánh quả đó là người con đại hiếu đối với cha mẹ và đứa con trung thành đối với đất nước. Ngược lại chẳng gắng lo tu thì hóa ra đại bất hiếu đối với song thân và đại bất trung đối với quốc vương. Tại sao thế, vì phàm kẻ đã cắt ái ly gia lìa xa quyến thuộc đem thân nương gửi dưới bóng phật đài thì ngày đêm chỉ một bề chuyên lo tu niệm, không còn lo phụng dưỡng cha mẹ, đối với xã tắc sơn hà xã hội quốc gia cũng không còn góp công giúp ích. Nếu gắng lo tu có đủ đầy công đức thì cứu rỗi được song thân để đền ơn sanh dưỡng, lại đem đạo đức giảng bày khuyến dân tu thiện làm lành lánh ác thì dứt được trộm cướp đao binh đất nước được thái bình dân tình được an cư lạc nghiệp, thế là đã đền đáp được công ơn quốc vương trị an rồi vậy. Nhưng không làm được như thế thì hóa ra kẻ đời cũng không xong, mà đạo cũng không thành, bỏ đời là để tu đạo, đem đạo để độ đời thì cả hai đạo đời đều trọn vẹn, bỏ đời mà không tu đạo thì đời đạo đều bỏ trôi, ruốt cuộc rồi nợ đời đã mang nặng lại còn đèo thêm nợ đạo lại càng nặng thêm.
Nói tóm lại, thà đừng đi tu, ở nhà lo tròn nhơn đạo, còn hơn đi tu bỏ nhơn đạo mà phật đạo cũng không thành
thì địa ngục ngã quỷ súc sanh khó thoát khỏi.
Ai là người có chút lương tri có tâm tàm quí mà không lo không sợ.
Do phạm 4 trọng tội ấy cho nên đến giờ lâm chung ắt bị đọa vào địa ngục trãi qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, khi mãn kiếp địa ngục lại phải đầu thai làm loài súc sanh để đền trả nợ xưa cho người thí chủ hoặc làm ngựa kéo xe làm trâu kéo cày làm chó giữ nhà làm la làm lừa chở chuyên hàng hóa .v.v... trãi qua vô số kiếp mang lông đội sừng để trả nợ cũ, khi hết trả nợ rồi lại sanh ra người hạ tiện tôi tớ cho người thí chủ trước kia, làm việc đầu tắc mặt tối cả ngày mà vẫn bị chủ nhà mắng chửi rầy la đánh đập cho ăn cơm hẩm đồ thừa chịu muôn điều nhục nhã khổ đau, đêm lại chỉ nằm co quanh xó bếp, mùa đông giá lạnh, mùa hạ muỗi mòng mà không đủ mùng mền chăn chiếu, quần áo chẳng kín thân ấy cũng bởi tiền kiếp chẳng lo tu để đền 4 ơn sâu nặng, nương thân dưới bóng từ bi để cầu miếng cơm manh áo, chớ không có tâm cầu đạo giải thoát của Như Lai cho nên đoạn tháng qua ngày bung lung phóng đật. Đệ tử xuất gia cửa phật nào phải là kẻ trốn nợ đời, kẻ xuất gia mà vì trốn nợ đời thì ắt mang nợ đạo, thì tam ác đạo khó lìa. Đi tu là trả hiếu mẹ cha, đi tu là đền ơn tổ quốc, gắng tu cho thành chánh quả đó là người con đại hiếu đối với cha mẹ và đứa con trung thành đối với đất nước. Ngược lại chẳng gắng lo tu thì hóa ra đại bất hiếu đối với song thân và đại bất trung đối với quốc vương. Tại sao thế, vì phàm kẻ đã cắt ái ly gia lìa xa quyến thuộc đem thân nương gửi dưới bóng phật đài thì ngày đêm chỉ một bề chuyên lo tu niệm, không còn lo phụng dưỡng cha mẹ, đối với xã tắc sơn hà xã hội quốc gia cũng không còn góp công giúp ích. Nếu gắng lo tu có đủ đầy công đức thì cứu rỗi được song thân để đền ơn sanh dưỡng, lại đem đạo đức giảng bày khuyến dân tu thiện làm lành lánh ác thì dứt được trộm cướp đao binh đất nước được thái bình dân tình được an cư lạc nghiệp, thế là đã đền đáp được công ơn quốc vương trị an rồi vậy. Nhưng không làm được như thế thì hóa ra kẻ đời cũng không xong, mà đạo cũng không thành, bỏ đời là để tu đạo, đem đạo để độ đời thì cả hai đạo đời đều trọn vẹn, bỏ đời mà không tu đạo thì đời đạo đều bỏ trôi, ruốt cuộc rồi nợ đời đã mang nặng lại còn đèo thêm nợ đạo lại càng nặng thêm.
Nói tóm lại, thà đừng đi tu, ở nhà lo tròn nhơn đạo, còn hơn đi tu bỏ nhơn đạo mà phật đạo cũng không thành
thì địa ngục ngã quỷ súc sanh khó thoát khỏi.
Ai là người có chút lương tri có tâm tàm quí mà không lo không sợ.
LINH DỤNG PHÉP QUÁN TƯỞNG
Thiền sinh khi được trao "phép quán tưởng" tức là lạy vị mình mến tin tưởng tuyệt đối.
Khi đã thâm nhập vị đó, lúc nào cũng thấy hình bóng Ngài ấy. Do đó oan gia không thể nào xâm nhập vào tâm được dễ dàng. Đây là linh dụng cần và rất cần thiết cho thiền sinh tu hạnh tứ thiền để lên siêu thiền, mau biểu lộ minh tâm kiến tánh (chỉ dùng cho thiền sinh).
Ví dụ :
Thiền sinh tin tưởng đến Mẹ hiền Quan Âm hay thầy dạy pháp một cách thâm nhập. Lúc đó chỉ cần niệm danh hiệu hay trực nhớ đến hình bóng sẽ lộ ra ngay trước mặt mà không nhớ đến oan gia.
Khi đã thâm nhập vị đó, lúc nào cũng thấy hình bóng Ngài ấy. Do đó oan gia không thể nào xâm nhập vào tâm được dễ dàng. Đây là linh dụng cần và rất cần thiết cho thiền sinh tu hạnh tứ thiền để lên siêu thiền, mau biểu lộ minh tâm kiến tánh (chỉ dùng cho thiền sinh).
Ví dụ :
Thiền sinh tin tưởng đến Mẹ hiền Quan Âm hay thầy dạy pháp một cách thâm nhập. Lúc đó chỉ cần niệm danh hiệu hay trực nhớ đến hình bóng sẽ lộ ra ngay trước mặt mà không nhớ đến oan gia.
TAM QUÁN
TAM QUÁN là 3 pháp quán để trừ tam độc : Dâm, Nộ, Si.
Quán bất tịnh để trừ dâm căn.
Quán từ bi để trừ nộ khí.
Quán nhân duyên để giải si mê "si ám".
QUÁN BẤT TỊNH để xem xét những chổ dơ nơi thân. Như lục phủ, ngũ tạng, cửu khiếu toàn thân là những vật nhơ nhớp bất tịnh hôi tanh đáng nhờm gớm, không có một chút gì ưa thích được, nhờ đó mà dứt bỏ được ý muốn nhục dục dâm ô.
QUÁN TỪ BI là xem tất cả chúng sanh như mình không khác, đồng thể xác đại đồng bổn thể chơn như nên thương người như thể thương ta, nhờ đó lìa xa sân nộ, oán thù, ganh ghét.
QUÁN NHÂN DUYÊN tức là suy xét 12 nhân duyên theo 2 chiều thuận nghịch từ vô minh đến sinh lão tử, từ sinh lão tử ngược lại vô minh. Nhờ đó mà giác ngộ chơn lý vạn pháp tùy duyên sanh, không có thực chất, như mộng huyển, như ảo như hóa nên không sanh tâm trụ chấp, không sanh khởi vô minh, không dấy khởi vọng tình. Nhờ đó mà trí huệ phật tánh được hồi sinh, có trí huệ được thông minh sáng suốt (dứt si ám). Nếu hành giả tu thiền mà thấy còn tam độc quá nặng thì nên hành thêm tam quán trên đây để giải trừ tam độc.
Kệ diệu pháp (đốn ngộ)
Nay tâm pháp chuyển thành diệu pháp
Giúp thiền nhi xây tháp kim cang
Cả thân tâm tuyệt đối bình an
Lửa ái dục hoàn toàn tắc lịm.
Quán bất tịnh để trừ dâm căn.
Quán từ bi để trừ nộ khí.
Quán nhân duyên để giải si mê "si ám".
QUÁN BẤT TỊNH để xem xét những chổ dơ nơi thân. Như lục phủ, ngũ tạng, cửu khiếu toàn thân là những vật nhơ nhớp bất tịnh hôi tanh đáng nhờm gớm, không có một chút gì ưa thích được, nhờ đó mà dứt bỏ được ý muốn nhục dục dâm ô.
QUÁN TỪ BI là xem tất cả chúng sanh như mình không khác, đồng thể xác đại đồng bổn thể chơn như nên thương người như thể thương ta, nhờ đó lìa xa sân nộ, oán thù, ganh ghét.
QUÁN NHÂN DUYÊN tức là suy xét 12 nhân duyên theo 2 chiều thuận nghịch từ vô minh đến sinh lão tử, từ sinh lão tử ngược lại vô minh. Nhờ đó mà giác ngộ chơn lý vạn pháp tùy duyên sanh, không có thực chất, như mộng huyển, như ảo như hóa nên không sanh tâm trụ chấp, không sanh khởi vô minh, không dấy khởi vọng tình. Nhờ đó mà trí huệ phật tánh được hồi sinh, có trí huệ được thông minh sáng suốt (dứt si ám). Nếu hành giả tu thiền mà thấy còn tam độc quá nặng thì nên hành thêm tam quán trên đây để giải trừ tam độc.
Kệ diệu pháp (đốn ngộ)
Nay tâm pháp chuyển thành diệu pháp
Giúp thiền nhi xây tháp kim cang
Cả thân tâm tuyệt đối bình an
Lửa ái dục hoàn toàn tắc lịm.
TAM CHƯỚNG
Tam chướng :
1/- Chấp ngã
2/- Chấp pháp
3/- Chấp không (chấp tướng)
Từ 3 thứ mê chấp đó sanh ra hằng sa mê chấp khác, hành giả chỉ cần tận diệt 3 thứ đó thì dứt hết mọi mê chấp và hoàn toàn diệt tâm vô minh. Phật tánh lúc bấy giờ được hồi sinh hiện hành viên mãn.
Cho nên có câu :
"Mây tan vần nguyệt rạng
Nước cạn trái châu bày".
Ba thứ mê chấp ấy gọi chung là tam chướng. Vì hay gây chướng ngại trên bước đường phản bổn hoàn nguyên "phục hồi phật tánh".
Chỉ thẳng cách để diệt trừ vô minh trong thiền tông có một pháp mầu mà chỉ có minh sư mới thủ đắc mà mật truyền cho cao đệ.
Đệ tử ưu tú gọi là "Tâm ấn Như Lai".
Nhưng trước khi mật truyền tâm ấn cho cao đệ, thiền sư thường cho lội qua 6 dòng nước, nhảy qua 7 lò lửa, bay qua 8 bát phong thì mới đủ điều kiện để thọ trì "Tâm Ấn Như Lai" và hoằng khai diệu pháp báo đáp tứ ân, cứu nhân độ thế, phổ tế quần sanh, hoàn thành bi nguyện.
Để trợ duyên pháp tử khỏi bị chìm sâu trong 6 dòng (lục thủy), bị cháy tan trong 7 lò lửa (thất hỏa) và tan xác trong 8 ngọn gió (bát phong).
Thiền sư truyền trao công án cho pháp tử gọi là 2 phao nổi để lội qua lục thủy, đôi thiết hài để nhảy qua thất hỏa và cặp cánh thần để bay qua bát phong.
Lội qua lục thủy thì được lên bờ giác.
Nhảy qua thất hỏa thì được vào nhà giải thoát.
Bay qua bát phong thì được về non niết bàn.
Công án ấy gọi là pháp mầu trợ đạo.
Còn tâm ấn gọi là pháp mầu ngộ đạo.
Sau khi hành giả tu thiền đã đạt đến tứ thiền thì mới được minh sư trao truyền công án, để dọn mình thọ trì tâm ấn như lai diệu pháp.
Trường đồ tri mã lực
Tố cựu biết nhân tâm.
Tam tai là : Thủy tai, hỏa tai, phong tai.
1/- Chấp ngã
2/- Chấp pháp
3/- Chấp không (chấp tướng)
Từ 3 thứ mê chấp đó sanh ra hằng sa mê chấp khác, hành giả chỉ cần tận diệt 3 thứ đó thì dứt hết mọi mê chấp và hoàn toàn diệt tâm vô minh. Phật tánh lúc bấy giờ được hồi sinh hiện hành viên mãn.
Cho nên có câu :
"Mây tan vần nguyệt rạng
Nước cạn trái châu bày".
Ba thứ mê chấp ấy gọi chung là tam chướng. Vì hay gây chướng ngại trên bước đường phản bổn hoàn nguyên "phục hồi phật tánh".
Chỉ thẳng cách để diệt trừ vô minh trong thiền tông có một pháp mầu mà chỉ có minh sư mới thủ đắc mà mật truyền cho cao đệ.
Đệ tử ưu tú gọi là "Tâm ấn Như Lai".
Nhưng trước khi mật truyền tâm ấn cho cao đệ, thiền sư thường cho lội qua 6 dòng nước, nhảy qua 7 lò lửa, bay qua 8 bát phong thì mới đủ điều kiện để thọ trì "Tâm Ấn Như Lai" và hoằng khai diệu pháp báo đáp tứ ân, cứu nhân độ thế, phổ tế quần sanh, hoàn thành bi nguyện.
Để trợ duyên pháp tử khỏi bị chìm sâu trong 6 dòng (lục thủy), bị cháy tan trong 7 lò lửa (thất hỏa) và tan xác trong 8 ngọn gió (bát phong).
Thiền sư truyền trao công án cho pháp tử gọi là 2 phao nổi để lội qua lục thủy, đôi thiết hài để nhảy qua thất hỏa và cặp cánh thần để bay qua bát phong.
Lội qua lục thủy thì được lên bờ giác.
Nhảy qua thất hỏa thì được vào nhà giải thoát.
Bay qua bát phong thì được về non niết bàn.
Công án ấy gọi là pháp mầu trợ đạo.
Còn tâm ấn gọi là pháp mầu ngộ đạo.
Sau khi hành giả tu thiền đã đạt đến tứ thiền thì mới được minh sư trao truyền công án, để dọn mình thọ trì tâm ấn như lai diệu pháp.
Trường đồ tri mã lực
Tố cựu biết nhân tâm.
Tam tai là : Thủy tai, hỏa tai, phong tai.
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011
PHÁP KÝ
THIỀN ĐỊNH
Vào nhà thiền định lấy tín tâm làm nền tảng.
Qua sông sanh tử lấy thiền định làm thuyền bè, cho nên các con phải thận trọng trong khẩu, ý, niệm.
Không một ai sanh niệm mà không trả quả.
KỆ CHUYỂN PHÁP
Pháp mầu chuyển hóa thân tâm
Giác hoa từ đó nẩy mầm lớn khôn
Giúp con hạnh nguyện vuông tròn
Thân tâm an lạc chẳng còn khổ đau.
Sự chuyển hóa ấy bắt đầu từ gốc đến ngọn, vì khi gốc đã chuyển thì ngọn cũng chuyển theo.
Trước hết là nói về chuyển ái dục nguồn gốc của sinh tử luân hồi.
Ái thuộc về tình cảm
Dục thuộc về dục vọng
Tình cảm là thương
Dục vọng là muốn
Trong ngũ uẩn không thể thiếu được hai thứ đó, cũng như sinh vật không thể thiếu được ánh sáng và dưỡng khí, do đó tiêu diệt tình cảm và dục vọng tức là tự sát mà chỉ cần chuyển hóa chúng.
1/- chuyển tình cảm thành từ bi, tức là :
Chuyển thương riêng thành thương chung
Chuyển thương hẹp thành thương rộng
Chuyển thương trói buộc thành thương tự tại
Chuyển thương mù quáng thành thương sáng suốt
Chuyển thương bằng tim thành thương bằng óc
Thì tình thương đó là phúc lạc vui và nguồn giải thoát vô tận cũng gọi là niết bàn.
2/- Chuyển dục vọng thành nguyện lực, tức là :
Chuyển muốn ích kỷ thành muốn lợi tha
Chuyển muốn tự lợi thành muốn lợi sinh
Chuyển muốn dục lạc thành muốn giải thoát
Chuyển muốn luân hồi thành muốn tự tại
Chuyển muốn sanh tử thành niết bàn
Chuyển muốn ô nhiễm thành thanh tịnh
Chuyển muốn thấp hèn thành siêu việt
Chuyển muốn danh, lợi, tình thành định, huệ, bi
Chuyển muốn danh tướng thành vô vi .v.v...
Từ muốn ấy trở thành pháp vị cam lồ ngọt lịm, đánh bại tất cả mọi ham thích về ngũ dục và hành giả tự nhiên ly dục, đạt đến niết bàn thường lạc tự tại, giải thoát.
Tóm lại :
Muốn giải thoát sinh tử luân hồi không nên diệt trừ ái dục chỉ nên chuyển hóa ái dục.
Kế đó nói về chuyển bát thức.
Bát thức nói về tám thức sau đây :
Nhãn thức : mắt thấy
Nhĩ thức : tai nghe
Tỷ thức : mũi ngửi
Thiệt thức : lưỡi nếm
Thân thức : thân xúc
Ý thức : ý thấy, biết
Mạc na thức : Bản năng tự vệ chấp ngã
A Lại Da Thức : cũng gọi là thức hàm tạng hay gọi là tạng thức.
5 thức : nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân gọi chung là tiềm ngũ thức.
Khi hành giả tu thiền đắc pháp tự nhiên chuyển thức vô minh thành tứ trí bồ đề
1- A lại da thức thành Đại viên cảnh trí
2- Mạc na thức thành Bình đẳng tánh trí
3- Ý thức thành Diệu quan sát trí
4- Tiềm ngũ thức thành Sở tác trí
Tứ trí ấy lại chia làm hai :
a- Thật trí : gồm hai trí lại : Đại viên cảnh trí cộng Bình đẳng tánh trí.
b- Quyền trí : gồm hai trí lại : Diệu quan sát trí cộng Sở tác trí.
Đại viên cảnh trí ví như một tấm gương tròn sáng to lớn mà tất cả vạn tướng chiếu trong đó. Trí này có diệu dụng soi sáng vạn pháp.
Bình đẳng tánh trí có diệu dụng giúp hành giả thấy được "tánh không" bình đẳng của vạn pháp, nên không còn biết các pháp đối đãi và dị biệt.
Nhờ đó mà dứt lòng nhơn ngã bĩ thử, đạt đến cứu cánh vô ngã và từ bi hỷ xã viên mãn.
Trí này còn giúp hành giả thành tựu được Nhẫn nhục ba la mật và nhiều hạnh lành khác.
Diệu quan sát trí giúp hành giả phân tích giải thích phán đoán mọi vấn đề một cách tinh vi tường tận nhạy bén sáng suốt.
Nhờ trí này mà hành giả nhận thức về cuộc đời đúng theo chơn lý một cách an vui hạnh phúc.
Thành Sở Tác Trí là mẹ đẻ của thần thông quảng đại biện tài vô ngại phương tiện thiện xảo để nhiều ích chúng sanh hoàn thành bi nguyện.
Trên đây là 2 pháp chuyển hóa quan yếu nhất trong phật pháp mà tất cả hành giả tu thiền cần phải nắm vững quán triệt thì mới tìm ra được con đường trở lại cố hương thì không bị sa lầy lạc hướng./-
Đắc chánh định thành chánh quả
Chánh định : giải thoát
Chánh định : chánh quả
Chánh kiến là nguồn gốc của giải thoát.
Văn tư tu hành.
Vào nhà thiền định lấy tín tâm làm nền tảng.
Qua sông sanh tử lấy thiền định làm thuyền bè, cho nên các con phải thận trọng trong khẩu, ý, niệm.
Không một ai sanh niệm mà không trả quả.
KỆ CHUYỂN PHÁP
Pháp mầu chuyển hóa thân tâm
Giác hoa từ đó nẩy mầm lớn khôn
Giúp con hạnh nguyện vuông tròn
Thân tâm an lạc chẳng còn khổ đau.
Sự chuyển hóa ấy bắt đầu từ gốc đến ngọn, vì khi gốc đã chuyển thì ngọn cũng chuyển theo.
Trước hết là nói về chuyển ái dục nguồn gốc của sinh tử luân hồi.
Ái thuộc về tình cảm
Dục thuộc về dục vọng
Tình cảm là thương
Dục vọng là muốn
Trong ngũ uẩn không thể thiếu được hai thứ đó, cũng như sinh vật không thể thiếu được ánh sáng và dưỡng khí, do đó tiêu diệt tình cảm và dục vọng tức là tự sát mà chỉ cần chuyển hóa chúng.
1/- chuyển tình cảm thành từ bi, tức là :
Chuyển thương riêng thành thương chung
Chuyển thương hẹp thành thương rộng
Chuyển thương trói buộc thành thương tự tại
Chuyển thương mù quáng thành thương sáng suốt
Chuyển thương bằng tim thành thương bằng óc
Thì tình thương đó là phúc lạc vui và nguồn giải thoát vô tận cũng gọi là niết bàn.
2/- Chuyển dục vọng thành nguyện lực, tức là :
Chuyển muốn ích kỷ thành muốn lợi tha
Chuyển muốn tự lợi thành muốn lợi sinh
Chuyển muốn dục lạc thành muốn giải thoát
Chuyển muốn luân hồi thành muốn tự tại
Chuyển muốn sanh tử thành niết bàn
Chuyển muốn ô nhiễm thành thanh tịnh
Chuyển muốn thấp hèn thành siêu việt
Chuyển muốn danh, lợi, tình thành định, huệ, bi
Chuyển muốn danh tướng thành vô vi .v.v...
Từ muốn ấy trở thành pháp vị cam lồ ngọt lịm, đánh bại tất cả mọi ham thích về ngũ dục và hành giả tự nhiên ly dục, đạt đến niết bàn thường lạc tự tại, giải thoát.
Tóm lại :
Muốn giải thoát sinh tử luân hồi không nên diệt trừ ái dục chỉ nên chuyển hóa ái dục.
Kế đó nói về chuyển bát thức.
Bát thức nói về tám thức sau đây :
Nhãn thức : mắt thấy
Nhĩ thức : tai nghe
Tỷ thức : mũi ngửi
Thiệt thức : lưỡi nếm
Thân thức : thân xúc
Ý thức : ý thấy, biết
Mạc na thức : Bản năng tự vệ chấp ngã
A Lại Da Thức : cũng gọi là thức hàm tạng hay gọi là tạng thức.
5 thức : nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân gọi chung là tiềm ngũ thức.
Khi hành giả tu thiền đắc pháp tự nhiên chuyển thức vô minh thành tứ trí bồ đề
1- A lại da thức thành Đại viên cảnh trí
2- Mạc na thức thành Bình đẳng tánh trí
3- Ý thức thành Diệu quan sát trí
4- Tiềm ngũ thức thành Sở tác trí
Tứ trí ấy lại chia làm hai :
a- Thật trí : gồm hai trí lại : Đại viên cảnh trí cộng Bình đẳng tánh trí.
b- Quyền trí : gồm hai trí lại : Diệu quan sát trí cộng Sở tác trí.
Đại viên cảnh trí ví như một tấm gương tròn sáng to lớn mà tất cả vạn tướng chiếu trong đó. Trí này có diệu dụng soi sáng vạn pháp.
Bình đẳng tánh trí có diệu dụng giúp hành giả thấy được "tánh không" bình đẳng của vạn pháp, nên không còn biết các pháp đối đãi và dị biệt.
Nhờ đó mà dứt lòng nhơn ngã bĩ thử, đạt đến cứu cánh vô ngã và từ bi hỷ xã viên mãn.
Trí này còn giúp hành giả thành tựu được Nhẫn nhục ba la mật và nhiều hạnh lành khác.
Diệu quan sát trí giúp hành giả phân tích giải thích phán đoán mọi vấn đề một cách tinh vi tường tận nhạy bén sáng suốt.
Nhờ trí này mà hành giả nhận thức về cuộc đời đúng theo chơn lý một cách an vui hạnh phúc.
Thành Sở Tác Trí là mẹ đẻ của thần thông quảng đại biện tài vô ngại phương tiện thiện xảo để nhiều ích chúng sanh hoàn thành bi nguyện.
Trên đây là 2 pháp chuyển hóa quan yếu nhất trong phật pháp mà tất cả hành giả tu thiền cần phải nắm vững quán triệt thì mới tìm ra được con đường trở lại cố hương thì không bị sa lầy lạc hướng./-
Đắc chánh định thành chánh quả
Chánh định : giải thoát
Chánh định : chánh quả
Chánh kiến là nguồn gốc của giải thoát.
Văn tư tu hành.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)